Hiểu về bệnh tiểu đường & nhận biết những phương thức tự nhiên giúp cải thiện căn bệnh này "từ gốc", không cần sử dụng thuốc hay tpcn.

BIỆN PHÁP CẢI THIỆN “TỪ GỐC” BỆNH TIỂU ĐƯỜNG (LOẠI I & II) – KHÔNG DÙNG THUỐC

Chào bạn.

Trong bài viết hôm nay, hãy cùng mình tìm hiểu chi tiết về chứng bệnh tiểu đường (loại I & II) – 1 dạng bệnh mãn tính ngày càng trở nên phổ biến ở mọi độ tuổi, từ trẻ em, trẻ vị thành niên, người trường thành, đến người trung – cao tuổi. Đồng thời, nhận biết biện pháp trọng tâm giúp cải thiện “từ gốc” căn nguyên gây nên chứng bệnh này, dựa trên lời khuyên của bác sĩ Michael Greger & T.Colin Campbell. 

Nên đọc thêm vì có thể hữu ích cho bạn: Thông tin về bác sĩ Michael GregerT.Colin Compell. 

Một số thông tin quan trọng trong bài viết này có thể rất khác với những thông tin bạn đọc được từ  các cơ sở y tế, nhưng bạn đừng vội đánh giá hay so sánh. Hãy cứ mở lòng tìm hiểu để có thêm được 1 góc nhìn mới dựa trên khoa học về chứng bệnh này nhé. 

Trước khi đi đến nội dung chính, bạn hãy dành 1 chút thời gian xem video dưới đây để biết thêm thông tin về mình & chuỗi video chia sẻ biện pháp tự nhiên giúp cải thiện TỪ GỐC các chứng bệnh mãn tính phổ biến hiện nay. 

I –  BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LÀ GÌ? 

– Là 1 chứng bệnh rối loạn chuyển hoá liên quan đến việc tiêu thụ và sử dụng hàm lượng đường trong cơ thể. Để hiểu rõ hơn, bạn hãy xem sự so sánh dưới đây: 

Người bình thường: Nguồn tinh bột từ thực phẩm sau khi tiêu thụ vào cơ thể được chuyển hoá thành đường Glucose -> Khi glucose đi vào máu, tuyến tuỵ sẽ sản sinh ra Insulin – hormone hoạt động như 1 người dẫn đường để glucose được vận chuyển & phân bổ đến các bộ phận/tế bào trong cơ thể nhằm giúp chúng hoạt động bình thường & 1 lượng glucose sẽ được chuyển hoá thành năng lượng -> Sau 2 hoạt động này, lượng glucose dư thừa sẽ được tích trữ dưới dạng chất béo ở các mô cơ (để cơ thể sử dụng khi cần tiêu hao năng lượng).

Người mắc tiểu đường: Nguồn tinh bột từ thực phẩm sau khi tiêu thụ vào cơ thể cũng được chuyển hoá thành đường Glucose -> Tuy nhiên, tuyến tuỵ không thể sản xuất Hormone insulin (tiểu đường loại I), hoặc tuyến tuỵ có tiết ra nhưng các tế bào/ bộ phận trong cơ thể lại không nhận được tín hiệu của insulin để hấp thụ đường Glucose (loại II). 

Khi đường Glucose không được vận chuyển đến các bộ phận/ tế bào, thì lượng đường Glucose đó sẽ bị ứ đọng trong máu. Ngày này qua tháng khác, lượng đường trong máu của bạn sẽ tăng đến mức nguy hiểm, gây nên bệnh tiểu đường. 

Hàm lượng đường huyết trong máu cao sẽ phá huỷ các mạch máu trên khắp cơ thể & gây tổn thương các dây thần kinh. Vì vậy, bệnh tiểu đường sẽ gây nên các biến chứng như mù loà, suy thận, khó lành vết thương ở tứ chi (dẫn đến nhiễm trùng & có nguy cơ phải cắt cụt chi), rối loạn hệ thần kinh, làm tăng nguy cơ tim mạch & đột quỵ.

Những biến chứng trên xảy ra với 1 nguyên nhân chính: đó là do tuần hoàn máu kém, khiến các bộ phận như mắt, thận, tay chân, hệ thần kinh, tim & não không nhận được đủ máu chứa oxy để chúng hoạt động bình thường.

– Để xác định xem mình có đang có nguy cơ mắc tiểu đường hay không, bạn có thể đến bệnh viện để thực hiện 1 trong 3 loại xét nghiệm sau: 

Xét nghiệm đường huyết lúc đói (Fasting glucose plasma): Bệnh nhân được yêu cầu nhịn ăn ít nhất 8 giờ trước khi xét nghiệm, thường được thực hiện vào sáng sớm, khi bệnh nhân chưa ăn gì. Giá trị bình thường của xét nghiệm này là < 100 mg/dL. Người bị tiểu đường có nồng độ glucose >= 126 mg/dL. Những người có kết quả rơi vào khoảng từ 100 mg/dL đến 125 mg/dL được kết luận mắc chứng tiền tiểu đường. 

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống: Bệnh nhân được yêu cầu nhịn ăn ít nhất 8 giờ, sau đó uống từ từ khoảng 200mL nước đã được hòa với 75g glucose. Bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm ở hai thời điểm, trước khi thực hiện xét nghiệm và 2 giờ sau khi uống 75g đường. Giá trị bình thường của loại xét nghiệm này là < 140mg/dL. Khi trị số này trên 200 mg/dL, bệnh nhân sẽ được chẩn đoán mắc bệnh tiểuđường. Từ 140 – 199 mg/dL là tiền tiểu đường. 

Xét nghiệm định lượng HbA1C: HbA1C là thông số phản ánh nồng độ đường trong máu trung bình vào khoảng 3 tháng gần đây. Đây là xét nghiệm thường được chỉ định để chẩn đoán và theo dõi đáp ứng điều trị ở những bệnh nhân mắc tiểu đường loại 2. Xét nghiệm HbA1C phải được thực hiện ở các phòng xét nghiệm đạt chuẩn quốc tế. Giá trị HbA1C ở người bình thường là < 5,7%. Khi HbA1C > 6,4%, người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường. 

II – PHÂN BIỆT TIỂU ĐƯỜNG LOẠI I VÀ LOẠI II

TIỂU ĐƯỜNG LOẠI I

– Là chứng bệnh thường phát triển ở trẻ em & trẻ thanh thiếu niên  (từ 3 đến 12 tuổi). Đặc biệt là trẻ có sức đề kháng kém do bỏ sữa mẹ & chuyển sang uống sữa bò quá sớm (dưới 3 tháng). Nếu cộng thêm việc không may sở hữu bộ gen nhạy cảm, thì những em bé này phải đối mặt với nguy cơ mắc tiểu đường loại I cao gấp 11,3 (1000 – 1200%) lần so với bé không có bộ gen này và được bú mẹ trên 3 tháng. 

– Chiếm 5 – 10% tổng số người mắc bệnh tiểu đường. 

– Triệu chứng rõ ràng: khát nước, đói và đi tiểu liên tục. 

– Bệnh xảy ra khi tuyến tuỵ bị tổn thương 1 phần hoặc hoàn toàn, vì thế nó không thể sản sinh ra hormone Insulin. Sự tổn thương này là do chính hệ miễn dịch trong cơ thể người bệnh tấn công vào các tế bào trong tuyến tuỵ (bệnh tự miễn). 

*Vì sao hệ thống miễn dịch trong cơ thể người bệnh lại tấn công và làm tổn thương tế bào trong tuyến tuỵ? 

Hệ miễn dịch tự nhiên là 1 tấm phòng thủ của cơ thể giúp chống lại các vi khuẩn ngoại lai (kháng nguyên) gây viêm nhiễm cho các cơ quan/ tế bào. Những kháng nguyên này chủ yếu đến từ đồ ăn thức uống mà chúng ta dung nạp từ bên ngoài. 

Không may là, có 1 số loại vi khuẩn ngoại lai có hình dạng rất giống với mô tế bào trong cơ thể, đối với tiểu đường thì đó là mô tế bào beta trong tuyến tuỵ. Vì vậy, hệ thống miễn dịch không phân biệt được đâu là thứ cần tiêu diệt & chúng tấn công cả 2.

Từ đó, tuyến tuỵ bị tổn thương và mất khả năng sản xuất insulin, dẫn đến bệnh tiểu đường loại I. Sự tổn thương này đặc biệt xảy ra phổ biến với trẻ em – độ tuổi mà các cơ quan tế bào trong cơ thể đang trong giai đoạn phát triển, chưa thực sự cứng cáp. 

Theo tổng hợp của 2 vị Bác sỹ Micheal Greger & T.Colin Campell dựa trên các nguồn nghiên cứu khoa học chính thống, thì 2 kháng nguyên đánh lừa cơ thể đó chính là albumin peptine (huyết thanh bò) – 1 dạng protein được tìm thấy trong sữa bò & 1 loại vi khuẩn được tìm thấy trong thịt & nội tạng động vật có tên là Mycobacterium avium paratuber tuberculosis (para TB). 

Các nghiên cứu cho thấy, nhóm dân cư/ quốc gia có những bà mẹ đang cho con bú và những đứa trẻ tiêu thụ nhiều sữa và thịt động vật (nhất là trong giai đoạn 0-3 tuổi)  là nơi có tỷ lệ trẻ em, trẻ vị thành niên mắc tiểu đường loại I cao nhất. Khi tiến hành xét nghiệm, các bé mắc bệnh chứa hàm lượng kháng thể của 1 trong 2 (hoặc cả 2) kháng nguyên trên cao hơn đáng kể so với bé không mắc chứng bệnh này. 

Từ đó, các nhà nghiên cứu & các bác sỹ đi đến kết luận, thói quen tiêu thụ sữa & thịt động vật trong 2 giai đoạn quan trọng: đang cho con bú (bà mẹ) và những năm tháng đầu đời (trẻ) quyết định rất lớn đến nguy cơ mắc tiểu đường loại I khi trẻ đến độ tuổi từ 3 – 12. 

Nghiên cứu khoa học: (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10)

*Vậy bệnh tiểu đường loại I xảy ra có do yếu tố di truyền không? Quan điểm của bác sỹ T.Colin Campbell được chia sẻ trong cuốn sách “Bí mật dinh dưỡng cho sức khoẻ toàn diện” của ông sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này: 

“Bộ gen không chịu hoàn toàn trách nhiệm cho căn bệnh này. Bởi chúng không thể hành động đơn độc, chúng cần 1 sự kích hoạt thì mới biểu hiện ra tính trạng bệnh. Trẻ thực sự mắc hay không, phụ thuộc vào dinh dưỡng trong sữa mẹ và những gì bé được ăn hằng ngày”. (1) (2)

TIỂU ĐƯỜNG LOẠI II

– Là chứng bệnh xảy ra ở cả trẻ em (trên 8 tuổi) và người trưởng thành,  chiếm 90-95% tổng số người mắc bệnh tiểu đường.

– Ở giai đoạn đầu và giữa, bệnh không có triệu chứng rõ ràng như tiểu đường loại I mà diễn ra rất âm thầm. Có khi, bạn chỉ có thể nhận biết được mình bị mắc tiền tiểu đường loại II khi đi khám tổng quát hoặc khi phát hiện tình trạng vết thương khó lành. Ở giai đoạn cuối, bệnh tiểu đường loại II dẫn đến các biến chứng như mình đã đề cập ở nội dung trong phần I. 

– Người mắc tiểu đường loại 2 có thể sản sinh insulin, nhưng insulin không hoạt động hiệu quả, có nghĩa là các cơ quan/tế bào trong cơ thể không nhận được tín hiệu của insulin (kháng lại tác dụng của insulin).

*Vì sao các cơ quan/tế bào trong cơ thể không nhận được tín hiệu của insulin? Đó là các do cơ quan/ tế bào đó đang bị tích tụ quá nhiều chất béo chuyển hoá và chất béo bão hoà (đặc biệt giàu trong thực phẩm bắt nguồn tù động vật như thịt, cá, trứng, sữa). 

Nên đọc thêm vì sẽ rất hữu ích cho bạn: Kiến thức cơ bản về chất béo (Fats). 

Sự tích tụ này sản sinh ra các gốc tự do &  2 độc tố có tên là  ceramide /diacyl-glycerol, gây cản trở việc nhận được tín hiệu của Insulin. Nói cách khác, nếu như insulin là chìa khoá mở cổng để glucose được vận chuyển đi, thì chất béo bão hoà & chuyển hoá làm tê liệt ổ khoá. Vì thế, dù insulin được sản sinh nhiều bao nhiêu cũng VÔ ÍCH. 

Nghiên cứu khoa học: (1) (2) (3) (4) (5) (6)

III – BIỆN PHÁP CẢI THIỆN “TỪ GỐC” CHỨNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Khi đã đọc đến đây, chắc hẳn bạn cũng đã nắm được đâu là nguyên nhân chính dẫn đến 2 dạng bệnh tiểu đường rồi đúng không? Hiểu được nguyên nhân chính thì chúng ta mới có thể tìm thấy biện pháp trọng tâm để cải thiện từ gốc, nhằm nhận được hiệu quả trong dài hạn. 

Những nguồn thông tin từ các tổ chức y tế cả trong và ngoài nước, phần lớn đều cho rằng tiểu đường loại I là loại bệnh không thể điều trị khỏi, người bệnh chỉ có cách duy nhất là tiêm insulin trong suốt quãng đời còn lại.

Và cách điều trị tiểu đường loại 2 tối ưu nhất là phẫu thuật cắt bỏ 90% dạ dày (giai đoạn nặng), hoặc uống thuốc hạ đường huyết kết hợp với điều chỉnh chế độ ăn dựa trên khuyến cáo của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) – 1 chế độ ăn chưa được nghiên cứu chính thống nào xác nhận có thể giúp cải thiện “từ gốc, mang lại hiệu quả rõ rệt & lâu dài” đối với bệnh tiểu đường. Bạn có thể tham khảo chế độ ăn khuyến cáo của ADA ở bảng dưới đây: 

Chất béo, % calo < 25 – 30
Carbs (tinh bột), % calo 45 – 60 
Đạm, % calo 15 – 20
Cholesterol, mg/ngày < 200
Tổng chất xơ tiêu thụ, g/ngày 25 – 30

Theo nhận bác sỹ Michael Greger & T.Colin Campbell dựa trên các tài liệu nghiên cứu lâm sàng (trực tiếp trên người) & trên chính những trường hợp bệnh nhân mà họ đã điều trị khỏi, thì tất cả những biện pháp trên mặc dù có thể làm giảm hàm lượng đường huyết trong máu, nhưng KHÔNG BAO GIỜ có thể điều trị được tận gốc căn bệnh. 

Bên cạnh đó, chúng cũng khiến bệnh nhân bị phụ thuộc vào thuốc men cả đời & cũng mang đến RẤT NHIỀU tác dụng phụ nghiêm trọng (xác xuất gặp phải không nhỏ), như: 

  • Tiêm insulin (tiểu đường loại I): làm đẩy nhanh quá trình lão hoá, suy yếu thị lực, tăng nguy cơ ung thư,  gây viêm nhiễm động mạch máu -> làm tăng nguy cơ đột quỵ và đau tim. 
  • Uống thuốc hạ đường huyết (loại II): khiến lượng đường huyết bị hạ quá mức, từ đó làm tăng tỷ lệ tử vong. 
  • Phẫu thuật cắt bỏ 90% dạ dày: đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng, viêm loét dạ dày & thiếu hụt dinh dưỡng. 

Nghiên cứu khoa học: (1) (2) (3) (4

Vậy đâu là lối thoát cho chứng bệnh tiểu đường (cả loại I và loại II), mời bạn xem video dưới đây: 

Cảm ơn bạn đã ghé thăm & chúc bạn 1 ngày an lành !

Ngọc Vũ

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of